Thập khôi hoàn

Thành phần:

1. Đại kế thảo khôi: 320 gam 

2. Trần tông khôi: 320 gam 

3. Đại hoàng khôi: 320 gam 

4. Đan bì khôi: 320 gam 

5. Hà diệp khôi: 320 gam 

6. Tiểu kế thảo khôi: 320 gam 

7. Trác bá khôi: 320 gam 

8. Sơn chi tử khôi: 820 gam 

9. Tây thảo khôi: 320 gam 

10. Mao căn khôi: 320 gam 

Cách dùng:

Mười vị trên nghiền bột mà dùng. Hiện nay, xí nghiệp dược ở Thượng Hải dùng nước sắc bạch cập độ 40-60 gam luyện bột ấy làm viên to bằng hạt đậu xanh. Mỗi lần uống 4-12 gam, ngày 1-3 lần với nước chín. 

Tác dụng:

Lương huyết, chỉ huyết. 

Giải thích bài thuốc:

Đây là phương thường dùng để cầm máu. Mười vị thuốc trong phương đều có tác dụng lương huyết chỉ huyết. Nhưng Đại kế, Tiểu kế, Tây thảo, Đại hoàng, Đan bì còn có tác dụng hóa ứ; Đại hoàng, Chi tử còn có tác dụng tả hỏa, Hà diệp, Trắc bá, Tông lư bì còn có tác dụng thu liễm.

Toàn phương có công năng lương huyết, chỉ huyết, cầm máu, nhưng không lưu ứ – dùng chữa chứng huyết nhiệt chảy máu nhất định hiệu quả. Theo nguyên tắc cấp tắc trị tiêu, thì phương trên là thuốc chỉ huyết tạm thời. Sau khi cầm máu, phải biện chứng tìm nguyên nhân để trị tận gốc bệnh. Truyền thống xưa nhận rằng thuốc chỉ huyết thường sao đen để tăng cường tính thu sáp. Vì thế phương này các vị nên sao cháy, nhưng phải tồn tính.  

Ứng dụng lâm sàng:

Chữa chứng bệnh: Các chứng nội xuất huyết đều ứng dụng được, khái huyết, nục huyết đều thích hợp. 

Chú thích:  Khôi là tro, thán là than đều có tác dụng cầm máu. Theo kinh nghiệm của Việt Nam thì các vị nên sao cháy tồn tính (N.D). 

Đánh giá post

Đông y Gia Khương
Địa chỉ: U01-LK64 Khu đô thị Đô Nghĩa, P. Yên Nghĩa, Q.Hà Đông, TP. Hà Nội.

Hotline tư vấn và đặt lịch lịch khám:
0977 25 77 85

Chia sẻ bài viết lên:

Viết một bình luận