Khiếm thực

Tên gọi – Phân nhóm

Tên tiếng Việt: Khiếm Thật
Tên tiếng Trung: 芡实
Tên khoa học: Semen euryales Ferox.
Họ: Họ Súng (Nymphaeaceae).

Đặc điểm, mô tả:

a. Đặc điểm:

Hạt chắc, hình cầu, màu đen, thịt trắng ngà là tốt.

b. Mô tả dược liệu:

Hình tròn, đường kính khoảng 0,6cm. Một đầu mầu trắng, chiếm khoảng 1/3, toàn thể hình tròn lõm xuống, đầu kia mầu đỏ nâu, chiếm 2/3 toàn thể. Ngoài mặt bằng trơn, có sâm hoa. Chất cứng, dòn. Cắt ra thì chỗ cắt không bằng phẳng, mầu trắng bạch, có chất bột.

Phân bố:

Chủ yếu ở Trung Quốc, chưa thấy trồng ở Việt Nam

Thành phần hóa học:

Trong Khiếm thực có nhiều tinh bột và Catalaza.

Trong Khiếm thực có 4,4% Protid, 0,2% Lipid, 32% Hydrat Carbon, 0,009% Calcium, 0,11% Phosphor, 0,0004% Fe, 0,006% Vitamin C.

Trong Khiếm thực có Calcium, Phosphor, Thiamine, Nicotinic acid, Vitamin C, Carotene

Tính Vị:

Vị ngọt, sáp, tính bình, không độc.

Vị ngọt. Thuốc khô thì ấm, thuốc tươi thì mát.

Vị ngọt, tính sáp, khí bình, không độc.

Quy Kinh:

Vào kinh Can, Tỳ, Vị.

Vào kinh Tâm, Thận, Tỳ, Vị.

Bộ phận sử dụng, thu hoạch, chế biến và bảo quản.

Bộ Phận Dùng: Quả (Semen Euryales).

Khiếm thực Trung Quốc dùng quả.

Khiếm thực Việt Nam dùng củ Súng thay thế.

Thu Hái, Sơ Chế:

Tháng 9-10 hái quả chín về, xay cho vỡ ra, xẩy lấy hạt rồi lại xay bỏ vỏ hạt, lấy nhân phơi khô hoặc sấy khô.

Bào Chế:

Phơi thật khô, chưng cho chín, bỏ vỏ, lấy nhân, tán bột.

Bỏ tạp chất, mốc mọt và thứ thịt màu đen, sao vàng, tán nhỏ, để dành dùng.

Sao Khiếm thực: Lấy cám bỏ vào nồi (cứ 50kg Khiếm thực, dùng 5kg cám), rang nóng, đợi khi khói bay lên, cho Khiếm thực vào, sao cho mầu hơi vàng, lấy ra, sàng bỏ cám, để nguội là được

Bảo Quản: Rất dễ bị mọt, nên phơi hoặc sấy cho thật khô, sao vàng, bỏ vào thùng đậy thật kín.

Khiếm thực có tác dụng gì?

Tác Dụng, Chủ Trị:

Bổ trung, ích tinh khí, cường chí, làm sáng mắt, làm tai nghe rõ.

Chỉ khát, ích Thận.

Lợi thấp, cố Thận, bế khí.

Kiện Tỳ, chỉ tả, ích Thận, bế khí, trừ thấp.

Bổ Tỳ, Thận, bền tinh tủy. Trị đái hạ, di tinh, tiểu nhiều, lưng đau, gối mỏi.

Liều Dùng: 12-20g.

Các bài thuốc chữa bệnh hiệu quả với Khiếm thực:

. Trị hoạt tinh (di tinh, tiết tinh…): Khiếm thực (chưng) 80g, Liên tu 80g, Liên tử 80g, Long cốt 40g, Mẫu lệ 40g, Sa uyển tật lê 80g, Liên tử tán bột để riêng, nấu làm hồ để trộn với thuốc bột của các vị kia, làm thành hoàn. Ngày uống 16 – 20g.

. Trị mộng tinh, hoạt tinh: Kê đầu nhục (Khiếm thực) 60g, Liên hoa nhụy 30g, Long cốt 60g, Ô mai nhục 60g. Tán bột. Lấy Sơn dược chưng chín, bỏ vỏ. Nghiền nát như cao, trộn thuốc bột làm viên to bằng hạt đậu nhỏ. Mỗi lần uống 30 viên với nước cơm, lúc đói.

. Trị di tinh, bạch trọc: Khiếm thực, Kim anh tử. Trước hết lấy Khiếm thực gĩa nát, phơi khô, tán bột, trộn với cao Kim anh làm viên. Ngày uống 8-12g.

. Trị đới hạ do thấp nhiệt: Khiếm thực, Hoàng bá, Xa tiền tử, sắc uống.

. Trị đới hạ do Tỳ Thận hư: Khiếm thực, Sơn dược, sắc uống.

. Trị tiêu chảy mạn tính do Tỳ hư: Khiếm thực, Bạch truật, Đảng sâm, Phục linh, sắc uống.

Lưu ý khi sử dụng Khiếm thực.

Ăn nhiều Khiếm thực không bổ cho Tỳ Vị mà làm tiêu hóa khó.

Táo bón, tiểu không thông : không dùng

Tham khảo

“Ông Đông Viên nói rằng: Khiếm thực ích tinh, trị bạch trọc, kiêm cả bổ nguyên khí, người bị yếu nhược, hư lao, lưng đau, gối mỏi, mắt mờ, uống được nó nhiều thì mạnh trí khí, tai mắt, tinh thần, thân thể cường tráng, lâu gìa.

“Xét về phần tiêu hóa thì không ưa ẩm ướt quá, về các mạch nước thì không thể khô ráo quá, phần dùng thuốc chữa về Tỳ, Thận, thường phản nhau. Chỉ có Khiếm thực lại hợp được cả 2: khí vị ngọt mát, thơm bùi, không ẩm ướt quá, chất dẻo, vị chát mà lại nhuận, không khô ráo quá, vì vậy vững được Thận mà bổ được Tỳ. Tuy nhiên, cũng không nên uống Khiếm thực 1 mình, phải thêm những vị thuốc bổ khí thì mới dễ tiêu. Đừng nên ăn Khiếm thực 1 mình nhiều quá sẽ khó tiêu vì Khiếm thực nhiều chất mát, ăn nhiều quá sẽ đầy bụng khó tiêu, nhất là trẻ nhỏ, đừng nên ăn nhiều quá sẽ khó lớn lên được”.

“Hoàng Cung Tú nói: ‘Khiếm thực bổ Tỳ như thế nào? Là dựa vào vị ngọt của nó. Khiếm thực cố Thận như thế nào? Là dựa vào vị sáp của nó. Công hiệu tương tự như Sơn dược, nhưng vị ngọt của Sơn dược nhiều hơn Khiếm thực, còn vị sáp của Khiếm thực lại hay hơn Sơn dược. Vả lại Sơn dược kiêm bổ Phế âm còn Khiếm thực thì chỉ ở Tỳ Thận mà không đến được Phế. Tuy Khiếm thực có thể bình bổ Tỳ Thận nhưng chậm, vì vậy, phải dùng nhiều và uống lâu mới thấy công hiệu”

Nguồn tham khảo Theo sách: Cây thuốc vị thuốc của GS.TS Đỗ Tất Lợi

0 0 đánh giá
Đánh giá
Chia sẻ bài viết lên:
Nhận thông báo qua Email
Nhận thông báo cho
guest
0 Bình luận
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận