Kê huyết đằng

Tên gọi – Phân nhóm

Tên tiếng Việt: Dây Máu Người
Tên Khác: Đại Huyết Đằng, Hồng Đằng, Huyết Phong Đằng, Mã Nhung Đằng, Tử Ngạnh Đằng,
Trư Huyết Đằng, Cửu Tằng Phong, Hồng đằng, Hoạt Huyết Đằng, Đại Huyết Đằng, Huyết Phong, Huyết Long Đằng, Ngũ Tằng Huyết, Quá Chương Long.
Tên tiếng Trung: 鸡血藤
Tên khoa học: Milletia reticulata Benth.
Họ: Cánh Bướm (Fabaceae).

Đặc điểm, mô tả:

Loại Dây leo. Lá kép gồm 5~7 hoặc 9 lá chét. Cụm hoa hình chùy ở ngọn dài 15~20cm. Hoa màu đỏ dài 15mm, xếp rất sít nhau. Qủa màu đỏ nâu dài 12cm, có 36 hạt. Chặt cây có nhựa màu đỏ chảy ra như máu.

Phân bố:

Trên thế giới: Cây của Trung Quốc, Lào và Việt Nam.

Việt Nam: Ở nước ta, thường gặp vùng núi phía nam như các rừng, dọc theo các sông suối trên đất có cát, tới độ cao 850m, ở các tỉnh phía Nam từ Lâm Đồng, Đồng Nai, Sông Bé tới Bà Rịa – Vũng Tàu , Quảng Nam , Quảng Ngãi , Khánh Hòa , Phú Yên , Bình Định (gặp nhiều trong rừng mưa nhiệt đới). Vùng núi phía bắc nhiều nhất là ở Cao Bằng , Lạng Sơn , Bắc Cạn , Thái Nguyên , Tuyên Quang , Hòa Bình

Thành phần hóa học:

Trong Kê huyết đằng có Milletol.

Trong rễ, vỏ và hạt có Glucozit, Tannin, chất nhựa.

Friedelan-3-Alpha-Ol, Daucosterol, Beta Sitosterol, 7-Oxo-Beta-Sitosterol, Formononetin, Ononin,Prunetin, Afrormosin, Daidzein, 3,7-Dihydroxy-6-methoxy-dihydroflavonol,
Epicatechin, Isoliquiritigenin, 2‘, 4‘, 3, 4-tetrahydroxy chalcone, Licochalcone, Medicagol, Protocatechuic acid, 9-Methoxycoumestrol, Cajanin.

Trong rễ có: Stigmast-5-ene-3 Beta-7 Alpha-Diol), 5 Alpha-Stigmastane-3 Beta, 6 AlphaDiol.

Tính Vị:

Vị đắng, ngọt, tính ôn.

Vị hơi đắng, ngọt, sáp, tính bình.

Quy Kinh:

Vào kinh Tâm, Tỳ.

Vào kinh Can, Thận.

Bộ phận sử dụng, thu hoạch, chế biến và bảo quản.

Thu Hái, Sơ Chế: Thu hái quanh năm, tốt nhất vào tháng 8~10. Chặt cây về, cắt bỏ cành lá, Chọn thứ to, chắc.

Bộ Phận Dùng làm thuốc: Dây vỏ mịn vàng. Khi tươi, cắt ngang có nước nhựa đỏ như máu chảy ra. Khi khô, tiết diện có nhiều vòng đen do nhựa khô lại.

Bào Chế: Rửa sạch, thái phiến, dùng sống.

Chọn thứ dây lớn và bé để riêng, ngâm thứ lớn độ 3 ngày, thứ bé ngâm 1~2 giờ cho mềm, thái lát dày 2 ly, phơi khô.

Bảo Quản: Dễ mốc, cần để nơi khô ráo, mát, mùa mưa nên phơi sấy thường xuyên.

Kê huyết đằng có tác dụng gì?

a. Tác Dụng Dược Lý:

Tác Dụng Lên Tim Mạch: nước sắc Kê huyết đằng ức chế tim ếch và làm hạ huyết áp nơi chó và thỏ bị gây tê khi gây co mạch trong tĩnh mạch ở tai thỏ.

Tác Dụng Kháng Viêm: Cho uống cồn thuốc Kê huyết đằng thấy có hiệu qủa tốt trên chuột: làm giảm viêm khớp gây ra bởi Formadehyde.

Tác Dụng Lên Hệ Thần Kinh Trung ương: Tiêm Kê huyết đằng vào màng bụng chuột thấy có tác dụng giảm đau và an thần.

Tác Dụng Trên Sự Chuyển Hóa Phosphate: thí nghiệm Kê huyết đằng trên chuột nhắt thấy tăng chuyển hóa Phosphate trong thận và tử cung.

b. Tác Dụng đối với cơ thể:

Bổ trung, táo Vị.

Hành huyết, bổ huyết, thông kinh lạc, làm mạnh gân xương.

Hòa huyết, bổ huyết, thông kinh, thư cân.

Hoạt huyết, bổ huyết, thông kinh, hoạt lạc.

c. Tác dụng chữa Trị:

Trị lưng đau, gối đau, té ngã tổn thương, tay chân tê, kinh nguyệt không đều.

Các bài thuốc chữa bệnh hiệu quả với Kê huyết đằng

Trị khí huyết suy kém, đại bổ khí huyết: Kê huyết đằng nấu đặc thành cao, hòa với rượu uống Không uống được rượu thì hòa với nước sôi uống.

Lưu ý khi sử dụng Kê huyết đằng.

Kiêng Kỵ: Người huyết không hư, thiên về huyết ứ, khí trệ: không dùng.

Độc Tính: Tiêm tĩnh mạch lượng tương đưng 4,25g/kg vào súc vật gây ra chết.

Tham Khảo:

“Nước cốt của dây cây này đỏ như máu gà, vì vậy gọi là Kê Huyết Đằng”.

“Vị thuốc này là một trong các vị thuốc thuộc loài dây ( đằng), sức hành huyết mạnh hơn bổ huyết. Khi chặt đứt đoạn dây, nước cốt chảy ra đỏ như máu, lấy nước đó nấu thành cao gọi là Kê Huyết Đằng Giao, sức bổ huyết mạnh hơn hoạt huyết Bổ huyết hoạt huyết có Đương quy, Đan sâm, Kê huyết đằng. Đương quy là thuốc chủ yếu chữa về huyết, cũng là thuốc khí trong huyết, sức bổ huyết mạnh hơn hoạt huyết, hơn nữa, Đương quy tính ôn, thích hợp với người phần huyết thiên về hàn. Đan sâm thì khứ ứ mạnh hơn bổ huyết, tính hàn, hợp với người phần huyết thiên về ôn. Kê huyết đằng có thể hoạt huyết thông lạc, đi thẳng đến kinh lạc, bổ huyết bất túc trong kinh lạc.

“Kê huyết đằng và Huyết đằng ở Việt Nam hiện chưa được xác định chắc chắn, thuộc vào mấy loại. Nhân dân chỉ mới căn cứ vào khi chặt cây thấy có những đám màu đỏ giống như máu thì lấy về dùng. Hiện nay được khai thác nhiều ở Hà son bình, Cao lạng và 1 số tỉnh miền núi khác”.

Công năng chủ yếu của Kê huyết đằng là bổ huyết hoặc hành huyết, trị huyết hư, kinh nguyệt không đều (dùng chung với Tứ Vật Thang). Có thể thông kinh, hoạt lạc, là thuốc chủ yếu trị lưng đau, gối mỏi, gân xương tê dại, phong hàn thấp tý. Cũng hợp với chứng lao thương khí huyết, gân xương không lợi. Nếu lấy nước cốt cô thành cao, gọi là Kê huyết đằng cao, sức bổ huyết mạnh hơn hoạt huyết, rất thích hợp với chứng huyết hư.

Nguồn tham khảo Theo sách: Cây thuốc vị thuốc của GS.TS Đỗ Tất Lợi

0 0 đánh giá
Đánh giá
Chia sẻ bài viết lên:
Nhận thông báo qua Email
Nhận thông báo cho
guest
0 Bình luận
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận