Tổng hợp những tinh hoa trong Kinh nghiệm Điều trị Polyp Đại tràng bằng Đông y của Giáo sư Lưu Thẩm Lâm

Giáo sư Lưu là bác sĩ Trung y nổi tiếng của Trung Quốc . Ông có nhiều kinh nghiệm và phương pháp điều trị Polyp đại tràng bằng Đông y vô cùng nổi tiếng và hiệu quả. Chúng tôi xin gửi tới quý độc giả một số kinh nghiệm mà giáo sư chia sẻ để quý độc giả tham khảo.

Polyp đại tràng

Polyp đại tràng là một tổn thương có hình dạng giống những khối u hình thành trên niêm mạc bên trong lòng đại tràng. Khi khối polyp còn nhỏ thường không có triệu chứng. Các triệu chứng thường gặp của bệnh thường là: đại tiện ra máu, chướng bụng, đau bụng, thay đổi thói quen đại tiện, tiêu chảy do bài tiết quá nhiều dịch ruột, v.v.

Nguyên nhân của căn bệnh này chưa xác định, thường liên quan đến yếu tố viêm, tuổi tác, thói quen ăn uống, di truyền, yếu tố gia đình. Hiện nay, tỷ lệ mắc ung thư đại tràng ở Trung Quốc đang gia tăng nhanh chóng, và trình tự tiến triển từ Polyp -> Polyp dạng tuyến ( U tuyến có khả năng ác tính hóa) -> Ung thư đã được giới y khoa nhất trí công nhận. Ước tính có khoảng 95% trường hợp K Đại tràng phát triển theo trình tự này.

Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển nhanh chóng của kỹ thuật nội soi, nội soi đã trở thành phương pháp quan trọng nhất để chẩn đoán polyp đại tràng. Cắt niêm mạc EMR (Endoscopic Mucosal Resection – áp dụng cho cắt các polyp đại tràng không cuống hoặc cuống ngắn, kích thước 0,5 – 3cm) và Cắt bóc tách dưới niêm mạc qua nội soi ống mềm ESD (Endoscopic Submucosal Dissection – can thiệp được nhưng tổn thương lớn hơn 3cm) ít gây tổn thương và hạn chế xâm lấn, cũng đã trở thành phương pháp phẫu thuật chính. Tuy nhiên, tỷ lệ tái phát của polyp sau khi phẫu thuật vẫn rất cao, vì vậy phải nội soi kiểm tra định kỳ thường xuyên về lâu dài sẽ gây ra gánh nặng kinh tế và tra tấn thân thể bệnh nhân.

Giáo sư Lưu là bác sĩ Trung y nổi tiếng của Trung Quốc những khóa đầu tiên, dưới sự dẫn dắt của quốc y đại sư – giáo sư Từ Cảnh Phiên bậc thầy về y học cổ truyền Trung Quốc. Ông chịu ảnh hưởng sâu sắc từ những tư tưởng học thuật của hai phái Mạnh Hà và Ngô Môn. Ông đã tham gia vào lĩnh vực chẩn đoán và điều trị các khối u, K đường tiêu hóa trong hơn 40 năm, đặc biệt là trong việc sử dụng thuốc Bắc để can thiệp vào tái phát polyp đại tràng, tăng sinh và biến ác tính mọi phương diện đều gặt hái được hiệu quả tốt, tích lũy kinh nghiệm lâm sàng phong phú, kiến giải độc đáo, học thuật đã đạt đến chỗ sâu sắc thâm vi. Nay xin được giới thiệu kinh nghiệm điều trị polyp đại tràng của Giáo sư Lưu Thẩm lâm để học giả cùng hân hưởng.

Nhận thức về Cơ chế (bệnh cơ) và Nguyên nhân gây bệnh (bệnh nguyên)

Từ “Tức nhục” 息肉 (Polyp, u cục có cuống) được ghi chép rõ ràng trong các y thư cổ, như “Thuyết văn giải tự” nói: “Tức nhục nghĩa là thứ thịt bám nhờ”. “Tức” có nghĩa là dư thừa, sinh sôi tràn đầy; “Linh Khu – Thiên 57 Thủy trướng” viết: “Chứng Trường đàm là như thế nào? Kỳ Bá đáp: Hàn khí khách ở bên ngoài Trường vị, đánh nhau với Vệ khí làm cho khí không thể tuyên đạt, nhân vì vận hành trở trệ mà có nơi để bám vào mà sinh ra khối tích ở bên trong, ác khí bởi vậy mà phát, tức nhục bèn sinh.

“Trương Cảnh Nhạc nói: “Tức nhục ý để chỉ khối thịt xấu”. Tuy nhiên, giáo sư Lưu cho rằng “Tức nhục” được đề cập trong sách cổ là một khái niệm nghĩa rất rộng, nó bao gồm cả polyp đại tràng và không dừng lại ở đó. Căn cứ theo triệu chứng lâm sàng cụ thể của bệnh polyp đại tràng, hiện nay polyp được Trung y phân loại thành các phạm trù “Trường đàm”, “Trường tích”, “Trường lựu”, “Phúc thống”, “Tiện huyết”, “Tiết tả”, “Tích tụ”.

Hiện nay, người ta thường cho rằng bệnh polyp đại tràng khởi phát của chủ yếu có liên quan đến cảm thụ ngoại tà, ăn uống không hợp lý, chính khí của cơ thể hư tổn, thất tình nội thương, vị trí bệnh ở đại trường, phát sinh bệnh ở tạng Tỳ, Can và Thận.

Đặc điểm bệnh cơ là bản hư tiêu thực, và rất dễ tái phát, khi bệnh phát đa số lấy Tỳ hư làm bản, các yếu tố và chứng hậu: thấp hàn, thấp nhiệt, thấp trọc, đàm trọc, khí trệ làm tiêu. Tà khí xâm phạm, thể chất chính khí vốn hư, ẩm thực bất điều đều là các nhân tố dẫn đến Tỳ khí hư tổn, mà Tỳ nằm ở trung tiêu, Nhiều yếu tố như sự xâm nhập của mầm bệnh lạnh, cơ thể thiếu bình thường, ăn uống không hợp lý có thể gây ra tình trạng thiếu hụt khí của tỳ vị, tỳ vị nằm ở trung tiêu, là then chốt để khí cơ thăng giáng, chủ vận hóa, thích táo mà ghét thấp.

Một khi Tỳ khí thụ tổn tắc vận hóa thất thường, thấp tà thừa cơ hội xâm phạm. Thứ nhất thấp tính trọng trọc, dính trệ sẽ cản khí cơ, khí cơ bất lợi, tạng khí không thông sướng.

Hai là thấp tích tụ lại mà biến thành đàm, đàm thấp lẫn lộn dính nhau bền chặt triền miên khó mà giải, làm trở ngại cản sự lưu thông khí huyết sinh ra huyết ứ. Ba là thấp uất lâu ngày hóa nhiệt, nhiệt ủng sinh ra huyết ứ.

Trên cơ sở này, giáo sư Vương Khánh Kỳ trong kinh nghiệm điều trị Polyp đại tràng của mình, ông chủ trương rằng polyp đại tràng phát bệnh không rời một chữ “Tích”. Một là hàn tà xâm phạm, ngưng trệ khí huyết, tí trở khí hóa, lâu dần thành tích.

“Hai là chính khí suy hư, dễ bị các sản phẩm bệnh lý như đàm thấp, ứ trọc lưu trệ, lâu ngày gây nên tích tụ. Chính như sách “Y tông tất độc” viết: “Chứng tích một khi đã hình thành thì chính khí đã hư sau đó tà khí mới có thể xâm nhập”.

Giáo sư Triệu Trí Cường trong “Nghiên cứu sơ bộ kinh nghiệm học thuật trong chẩn đoán điều trị polyp đại tràng dạng tuyến” cũng căn cứ vào những cơ sở trên đề xuất ba nhân tố quan trọng nhất gây ra Polyp Đại tràng là Đàm, Ứ và Độc. Ba yếu tố này dồn chứa tích tụ trong cơ thể lâu ngày đàm, ứ, độc sẽ đọng lại ở trường phủ, đại trường mất chức năng truyền tống, dần dần sẽ hình thành khối tích tụ.

Giáo sư Lưu Thẩm Lâm cho rằng: các khối u (Tức nhục) hình thành là kết quả của sự pha trộn của cả yếu tố bên trong và bên ngoài, cũng là do sự đấu tranh giữa chính khí và tà khí dần dần tạo thành. Chính là nói “Chính khí tồn nội, Tà bất khả can – Chính khí mà còn thì tà khí không thể xâm phạm”, “Tà chi sở tấu, kỳ khí tất hư – Tà khí xâm phạm cơ thể được thì chính khí tất hư”. Chính khí hư tổn kỳ thật lấy Tỳ khí là căn nguyên, Tà khí bao gồm thất tình, lục dâm, ẩm thực,.. là nguyên nhân khởi phát bệnh. Chính khí của cơ thể và tà khí công kích nhau sinh ra sản phẩm bệnh lý là thấp, đàm, ứ, trọc và độc uẩn kết tạng phủ làm khí huyết vận hành không thông, đại trường mất chức năng truyền đạo mà súc lại ở trong tạng phủ, tích tụ lâu ngày biến thành tức nhục (u cục, polyp).

Ngoài ra, Giáo sư Lưu còn nhấn mạnh, polyp đại tràng là biểu hiện cục bộ của các bệnh lý toàn thân. Lấy hư thực để mà luận thì bệnh lý toàn thân thuộc hư, biểu hiện bệnh tại đại trường là thực. Lấy hàn nhiệt để bàn thì toàn thân là hàn, cục bộ là nhiệt.

Toàn thân là hư thì trọng yếu ở tỳ vị hư, nơi mà polyp sinh sôi, cục bộ là thực thì đàm trọc, thấp trở, huyết ứ,… là mầm mống sinh ra polyp; do đó trong điều trị lâm sàng thì Phù chính hóa tích là chủ yếu

Toàn thân thuộc hàn thì chủ yếu do tỳ hư lâu ngày, dương khí hư suy, không có khả năng thăng phát thanh dương và vận hóa, chức năng tiêu hóa mất đi thường độ, dẫn đến đồ ăn thức uống đình trệ ở tạng phủ, gây ra thấp nhiệt nên bệnh ở cục bộ là nhiệt.

Ngoài những điều trên, giáo sư Lưu cho rằng, từ góc độ âm dương để giải thích, quá trình phát sinh polyp đại tràng rất dài, triệu chứng tiềm tàng không rầm rộ khó phát hiện, dễ tái phát và nhiều năm không khỏi, từ những điều đã trình bày ở trên có thể thấy về tổng thể bệnh Polyp là bệnh hàn, thuộc về Âm. Polyp đại tràng tốc độ phát triển nhanh, dễ tiến triển thành ung thư, nội soi có nhiều khối phình sắc tươi nhuận, sau khi trị liệu dễ lành, từ những điều trên có thể thấy cục bộ bệnh là nhiệt thuộc Dương.

Kinh nghiệm lâm sàng

Tỳ khí kiện vận, tà khí bất xâm

“Giáo sư Lưu cho rằng sự phát sinh phát triển của polyp đại tràng xuyên suốt từ đầu tới cuối đều là do tỳ hư. Đúng như câu “Bách bệnh đều do tỳ vị hư suy mà sinh ra”

“Sách “Hoạt pháp cơ yếu – Then chốt trong pháp cứu người” nói: “Người khỏe mạnh thì không có tích tụ, người suy nhược ắt sẽ có. Tỳ vị hư nhược, khí huyết lưỡng hư, quanh năm bị cảm đều có thể thành chứng tích.”

Sách “Vệ sinh bảo giám – Lời răn quý báu về phép dưỡng sinh” nói: “Phàm những người tỳ vị hư nhược, hoặc ăn uống không điều độ, không thể tiêu hóa, cuối cùng thành kết thành khối tích tụ.”

Một là, Tỳ hư là gốc bệnh, là nơi sinh ra polyp. Hai là huyết ứ, đàm trọc, thấp trở,…các sản phẩm bệnh lý này là mầm mống phát sinh polyp.

Giáo sư Lưu cho rằng chỉ có tỳ khí sung thịnh, polyp mới mất đi cái gốc rễ mà chúng dựa vào để tồn tại, đất đai có cằn cỗi mới không dẫn đến việc hình thành hạt giống sau này.

Sách “Trương thị Y thông – mục Tích tụ” cũng viết: “Những người giỏi chữa bệnh, trước hết nên bổ hư, làm cho khí huyết tráng thịnh tắc khối tích tụ sẽ tự tiêu.”

Giáo sư Lưu cũng có tâm đắc về phép Bổ tỳ trong lâm sàng đối với bệnh lý Polyp Đại tràng như: Khi bổ Tỳ cần phải phân biệt rõ sự khác nhau của âm dương khí huyết. Khí huyết hư thì dùng Tứ quân tử thang, Hương sa lục quân tử thang, Quy thược lục quân tử thang làm cơ sở.

Các vị thuốc cụ thể như: Thái tử sâm, Đảng sâm (sao), Đương quy (sao), Ý dĩ nhân (sao), Đại Hồng táo (Hồng táo loại quả to),..

Tỳ bị thấp khốn gia Pháp Bán hạ, Quảng Hoắc hương, Thương truật, Hậu phác, Thảo quả,.. để Hóa thấp tỉnh tỳ.

Trung hư khí trệ phối Quảng Trần bì, Hồng chỉ xác, Ổi mộc hương, Sa nhân,..giúp Điều lý khí cơ.

Tỳ vô dương không vận hóa, thường dùng phương thuốc Ích khí tỳ kết hợp thuốc Ôn dương như: Chế Phụ tử, Ngô thù du (sao), Quế chi, Cao lương khương, Bào khương,..để Ôn tỳ trợ vận (ôn ấm tỳ thổ, giúp tăng cường vận hóa).

Đại trường là cơ quan “Truyền đạo” – (đưa dẫn và bài tiết truyền hóa chất cặn bã), chủ về tân dịch, “Tức nhục” – khối u cục, polyp ở trong Đại trường lâu ngày gây trở trệ làm cho đại trường mất chức năng “truyền đạo” gây ra hao tổn tân dịch, tức nhục trở trệ lâu ngày dễ biến thành Nham chứng (ung thư), tổn thương chính khí, dương khí hao tán, dương tổn lâu ngày kéo theo âm cùng hư, mà âm thường không đủ.

Vì vậy mà thường dùng các bài thuốc Kiện tỳ ích khí kết hợp gia thêm các vị thuốc có tác dụng Dưỡng âm sinh tân như: Nam Sa sâm, Bắc Sa sâm, Thiên môn, Mạch môn, Sinh địa hoàng, Ngọc trúc, Thạch hộc, Thiên hoa phấn,.. để Tư âm nhuận táo.

Ngoài ra, giáo sư Lưu còn nhấn mạnh, phương thức để bổ tỳ nên dùng pháp “Bình bổ” – bổ kiêm điều hòa, “Vận bổ” – bổ kiêm hành, kị “tuấn bổ” – bổ nhanh mạnh gấp, ‘ủng bổ” – dùng thuốc bổ nhiều để bồi đắp tránh tình trạng bổ nặng gây tắc nghẽn. Trong quá trình điều trị, nên sử dụng linh hoạt các vị thuốc Tiêu thực, như: Chích Kê nội kim, Sao mạch nha, Tiêu Sơn tra, Tiêu thần khúc,.. khiến cho bồi bổ mà không gây ủng trệ, thúc đẩy tiêu hóa thông trường vị.

Thông sướng trường vị, Khu tà hóa tích

Sách Nội kinh “Tố vấn – Linh lan bí điển luận” viết: “Đại trường là cơ quan “truyền đạo”, sự biến hóa ở đó mà ra.”  Sách Nội kinh “Tố vấn – Ngũ tạng biệt luận ” nói rằng: “ Lục phủ chỉ truyền hóa mà không tàng nạp”. “Lục phủ lấy thông để dụng, lấy giáng để thuận”.

Giáo sư Lưu cho rằng, Đại trường là một trong lục phủ, và quá trình hình thành polyp đại tràng chung quy là kết quả của quá trình tích tụ lâu ngày các sản phẩm của bệnh lý bao gồm Đàm, Ứ, Thấp, Trọc, Độc trong trường vị, làm cho trường vị không thông sướng, kết quả làm đại trường mất chức năng truyền đạo. Phương pháp điều trị tốt nhất nên Khư tà hóa tích, cụ thể là Hóa thấp trọc, Hành ứ trọc.

Cái gọi là Hóa thấp trọc, quan trọng nhất là kiện tỳ, trên cơ sở đó càng đánh thêm vào tính hóa thấp tà trong trường đạo. Cái gọi là hành ứ trọc cũng là vận dụng trên cơ sở Phù chính bổ hư gia thêm Hoạt huyết hóa ứ tiêu trưng.

Giáo sư Lưu Thẩm Lâm thường lấy “Kiện tỳ tiêu trưng tư sinh thang” của ông tự chế làm bài thuốc cơ sở để gia giảm, các vị thuốc cụ thể như: Sao Đảng sâm, Sao Bạch truật, Phục linh, Chích cam thảo, Hoài sơn, Sinh Ý dĩ nhân, Trần bì, Mộc hương, Dương Quy, Bạch thược, Bạt Khế (Bạt kháp), Thạch kiến xuyên (Tử sâm, Tiểu đan sâm), Tam lăng, Nga truật. Trong đó, giáo sư Lưu đặc biệt chuộng thích 3 vị thuốc Bạch truật, Tam lăng, Nga truật. Bạch truật không chỉ là vị thuốc quan trọng bậc nhất trong Kiện tỳ, mà còn có thể giúp trường vị vận hóa để trừ thấp.

Các nghiên cứu “Tiến bộ trong nghiên cứu về tác dụng dược lý của Bạch truật trong điều trị các bệnh đường tiêu hóa”  đã chứng thực Bạch truật có tác dụng hưng phấn, điều hòa nhu động ruột. Điều đó với “Trợ trường vị vận hóa” chỉ là cách diễn giải khác nhau nhưng đều chỉ một ý vậy. Tam lăng, Nga truật đều là vị thuốc Phá huyết tiêu trưng tích, chuyên hoạt huyết phá huyết, hành khí tiêu tích. Các nghiên cứu dược lý “Cơ chế tác dụng dược lý của hoạt chất trong Nga truật, Tiến bộ trong nghiên cứu tác dụng dược lý và thành phần hóa học của Tam lăng” cũng cho thấy hai vị thuốc này có tác dụng ức chế sự phát triển của tế bào polyp, có tác dụng ngăn ngừa tái phát và di căn.

Giáo sư Lưu đặc biệt nhấn mạnh mặc dù các loại thuốc hoạt huyết hóa ứ tiêu tích có hiệu quả rõ trong điều trị polyp đại tràng, nhưng nếu người bệnh quyết định phẫu thuật nội soi cắt bỏ polyp hoặc mới phẫu thuật không lâu đều không nên sử dụng loại thuốc này. Việc này có thể làm tăng nguy cơ chảy máu trong hoặc sau khi phẫu thuật cho bệnh nhân.

Điều đạt sơ Can, Phù Thổ ức Mộc

Giáo sư Lưu cho rằng sự hình thành một loại polyp đại tràng nào đó là kết quả của Can Tỳ bất hòa, tương hỗ thất điều, tác dụng qua lại giữa can và tỳ không điều hòa, mất cân bằng. Can và Tỳ ảnh hưởng lẫn nhau, Tỳ bệnh có thể ảnh hưởng đến Can và Can bệnh cũng có thể truyền sang Tỳ.

” Một mặt, bệnh nhân polyp Tỳ vị hư nhược lâu ngày, Đàm trọc nội sinh, Trung tiêu uất trệ ảnh hưởng đến sự sơ tiết của Can khí. Mặt khác bệnh nhân Can khí uất trệ, mất chức năng sơ tiết, hoành nghịch công kích Tỳ thổ; hoặc khí uất hóa hỏa dẫn đến Tỳ mất kiện vận. Vì vậy mà Tỳ đòi hỏi Can khí phải điều đạt mới có thể vận hóa có thường độ, Can phải nhờ vào Tỳ vận hóa đồ ăn thức uống thành chất tinh vi nuôi dưỡng, Can mới có thể làm chức năng sơ tiết của mình. Sách “Kim Quỹ yếu lược – Tạng phủ kinh lạc tiên hậu bệnh mạch chứng” đề xuất: “Thấy Can bệnh phải biết Can sẽ truyền cho Tỳ”. Nội kinh “Tố vấn – thiên Bảo mệnh toàn hình” nói: “Thổ cần mộc sơ tiết, Thổ nhờ mộc mà được thông suốt”.

Giáo sư Lưu chỉ ra rằng trong quá trình điều trị cho bệnh nhân polyp đại tràng, trong khi bổ Tỳ thổ nhất định phải điều Can ức mộc, khiến Can Tỳ không một bên nào thái quá hoặc bất cập, giữ cho trung tiêu thăng giáng có tuần tự, âm dương khí huyết quân bình.

Can bản thể thuộc âm nhưng vận dụng là dương, điều Can bản chất là tư dưỡng Can âm mà sai khiến Can dương . Trong quá trình lâm sàng, giáo sư Lưu thường lấy Tiêu dao tán và Tứ nghịch tán làm phương gốc để gia giảm, cụ thể gồm các vị thuốc : Sài hồ, Đương quy, Bạch thược, Bạch truật, Phục linh, Trần bì, Chỉ xác, Ô mai, Cam thảo. Trong đó, Sài hồ thông sướng can mộc mà điều hòa can tính; Đương quy, Bạch thược Dưỡng huyết nhu can, dưỡng cái thể mà thông sướng cái dụng của Can, Ô mai và Cam thảo hai vị thuốc một toan (chua) một cam (ngọt) có tác dụng hóa âm khí.

Phép dùng vị thuốc chua cay đắng, Sử dụng linh hoạt cổ phương

“Phép dùng vị thuốc Toan khổ tân” do giáo sư Lưu Thẩm Lâm trong quá trình vận dụng bài thuốc cổ phương Ô mai hoàn gia giảm trị liệu bệnh polyp đại tràng thu được hiệu quả thần kỳ sau đó độc đáo đề xuất ra.

Ô mai hoàn là một bài thuốc cổ phương của Thánh y Trương Trọng Cảnh để điều trị Quyết âm bệnh đau bụng nôn ra giun. Thành phần vị thuốc gồm: Ô mai, Hoàng liên, Hoàng bá, Nhân sâm, Đương quy, Phụ tử, Quế chi, Thục tiêu, Can khương, Tế tân.

Giáo sư Lưu Thẩm Lâm nhận định bài thuốc này có ba đặc sắc lớn:

1) Toan Khổ hợp pháp: Ô mai vị toan kết hợp Hoàng liên Khổ hàn, vừa liễm toan nhu can, lại táo thấp thanh nhiệt.

2) Hàn ôn cùng dùng: vừa phối Can khương, Phụ tử tân ôn trợ dương, lại thêm Hoàng liên, Hoàng bá khổ hàn tiết nhiệt.

3) Trong tả có bổ: Phần lớn các vị thuốc trong toàn bài lấy tiêu đạo khư tà làm chủ, một số ít vị thuốc như Nhân sâm, Đương quy bổ khí, điều huyết làm tá.

Khi lâm chứng Giáo sư Lưu thường lấy kiến giải của Ô mai hoàn nhưng không cố chấp câu nệ, độc lập sáng tạo ra hai cặp đối dược Hoàng liên phối Can khương, Phụ tử phối Đại Hoàng, công hiệu ôn dương noãn tỳ, Thanh tiết thấp nhiệt.

Khổ hàn và tân ôn phối ngũ, một là phòng khổ hàn thái quá, làm thương dương khí tỳ vị; hai là phòng tân ôn khô táo khốc liệt, trợ nhiệt sinh hỏa.

Hai vị thuốc tương hỗ chế ước nhau, tương phản tương thành, kết hợp với nhau công dụng càng mạnh . “Bản thảo cầu chân” viết: “Ô mai toan sáp mà tính ôn, khi vào Phế tắc thu, vào Đại trường tắc sáp…., vào cơ chết cơ nhục hoại tử thì trừ được ác nhục (thịt xấu), bị gai đâm thì nó hút ra ngoài”. Có thể thấy Ô mai có tác dụng tiêu trừ ác nhục, khối u, nghiên cứu dược lý học hiện đại “Những tiến triển mới trong nghiên cứu về tác dụng dược lý và thành phần hóa học của Ô mai” cũng đã có chứng thực.

Sau khi trải qua quan sát lâu dài trên lâm sàng về hiệu quả chữa bệnh, giáo sư Lưu kiến nghị, trong khi trị liệu cần chú trọng liều lượng và cách sử dụng của Ô mai, bởi vì nó có tác dụng điều trị và khống chế rất tốt polyp đại tràng.

Ô mai dùng ít có tác dụng thu sáp, có thể chỉ tả, cẩm ỉa chảy; dùng lượng lớn thì thiên về nhuận táo, có thể thông tiện nhuận tràng; chế với giấm có thể dẫn thuốc vào kinh Can, vừa tăng cường tác dụng thu sáp, lại lý khí chỉ thống; sao đen có khả năng cầm máu mạnh.

Đơn độc mở lối, từ Phế luận trị

Lưu giáo sư chỉ ra rằng, trong quá trình lâm sàng nếu gặp bệnh nhân polyp đại tràng mà biện chứng không rõ ràng sáng suốt, hoặc điều trị lặp đi lặp lại không có hiệu quả rõ ràng, có một điểm quan trọng nhất là giữ cho trường vị thông sướng.

Do đó, Lưu giáo sư đơn độc mở lối nêu ra sự đặc sắc trong chủ trương điều trị từ Phế để bảo trì cho trường vị thông sướng, cơ sở lý luận là phế và đại trường biểu lý với nhau.

Từ phương diện sinh lý mà nói, Phế thông điều thủy đạo, chủ về hành thủy, là thượng nguồn của thủy, mà Đại trường chủ về tân dịch. Phế có vận hành bình thường thì tân dịch mới có thể bố tán, đại trường mới nhu nhuận. Hai tạng phủ luân phiên nhau cùng tham gia trao đổi chất, khiến trường vị không có nỗi lo bị thủy thấp đình lưu, không bị tai họa tân khô dịch kiệt, giữ cho trường vị được thông sướng.

Ngoài ra, bệnh căn lấy Tỳ hư làm gốc, và cơ chế bệnh sinh của các sản phẩm bệnh lý: thấp, đàm, ứ, trọc uẩn kết đại tràng đều không thể tách rời công năng Phế, điều này cũng mang lại tính khả thi nhất định cho thuyết lấy Phế để luận trị bệnh lý polyp đại tràng.

Thuyết lấy Phế để luận trị bệnh lý polyp đại tràng trong quá trình lâm sàng của Lưu giáo sư đều dựa trên cơ sở của việc kiện Tỳ, kiện tỳ và lý phế kết hợp với nhau, bổ Phế Tỳ khí hư, thông giáng khí trệ và uế trọc trong trường vị, nhuận trường làm cho lòng ruột thông suốt, trơn nhuận.

Trong quá trình lâm sàng, giáo sư Lưu thường dùng các vị thuốc Hoàng kỳ, Bạch truật, Chỉ thực, Hậu phác, Đại phúc bì, La bặc tử, Đương quy, Qua lâu, Hạnh nhân, Đào nhân, Hổ trượng phối ngũ gia giảm.

Trong đó Hoàng kỳ, Bạch truật bổ Tỳ Phế khí; Chỉ thực, Hậu phác, Đại phúc bì, La bặc tử sơ đại trường khí cơ; Hổ trượng tiết trọc, giáng tiết trường vị tích trệ; Đương quy, Qua lâu, Hạnh nhân, Đào nhân nhuận trường thông tiện.

Kiểm tra tổng thể, Bệnh và chứng kết hợp

Giáo sư Lưu cho rằng việc điều trị polyp đại tràng cần cân nhắc cả bệnh lý toàn thân và cục bộ, không chỉ giới hạn tại chỗ polyp, điều chỉnh tổng trạng của bệnh nhân để tối đa hóa khả năng miễn dịch của cơ thể cũng không thể thiếu.

Ngoài ra, Lưu giáo sư nhấn mạnh, việc điều trị polyp đại tràng nhất định phải tuân phân biện rõ bệnh và chứng. Việc xác định bệnh được dựa vào kết quả nội soi thấy rõ vị trí cụ thể của polyp, kích thước, số lượng, loại polyp cụ thể sau khi sinh thiết, từ đó đưa ra chẩn đoán và đánh giá sơ bộ tình trạng bệnh.

Biện chứng chủ yếu thông qua tứ chẩn vọng văn vấn thiết là dữ liệu ban đầu, đồng thời căn cứ vào phân tích toàn diện của bệnh tình, biện chứng chuẩn xác thể lâm sàng, cuối cùng tuyển chọn phương thuốc phù hợp nhất tiến hành điều trị cho từng bệnh nhân.

Giáo sư Lưu chủ trương rằng khi biện chứng cần phải dựa trên từng bệnh nhân từng thời điểm. Đối với những người có thể chất khỏe mạnh, trong bài thuốc điều trị phối ngũ các vị thuốc công tà có thể dùng nhiều, liều cao; thể chất suy nhược, chính khí hư yếu thuốc công tà chỉ dùng cùng lắm là 1-2 vị là đủ vả lại liều dùng nên thấp.

Ở giai đoạn đầu của bệnh polyp, điều trị lấy công tà hóa tích làm trọng, ở giai đoạn sau của bệnh chính khí hư tà vấn vít, phù chính cố bản, điều tiết cân bằng âm dương mới là phương pháp hợp lý.

Lấy tổng thể mà nói, biện chứng dựa trên cơ sở biện bệnh, chỉ có thông qua biện rõ về bệnh, đánh giá tính chất cụ thể của polyp thì việc biện chứng mới có ý nghĩa , chỉ có thông qua phân tích triệu chứng mới khiến cho việc điều trị polyp càng thêm cụ thể, chi tiết, chính xác.

Trung – Tây tham vấn, lấy sự trung hòa không thiên lệch làm cốt yếu.

Giáo sư Lưu tin rằng Trung y dược đối với trị liệu polyp đại tràng có những ưu thế không thể thay thế, hiệu quả biện chứng luận trị của Trung y dược trong điều trị polyp đại tràng là rất rõ ràng, có thể bù đắp thêm chỗ hư thiếu, tránh tái phát sau khi nội soi cắt polyp bằng Tây y.

Ngoài ra, giáo sư Lưu chủ trương trong khi sử dụng thuốc Đông y để điều trị có thể châm chước tình hình bệnh tật có thể sử dụng các loại thuốc Tây có tác dụng điều hòa hệ vi khuẩn đường ruột để thúc đẩy bệnh tật, tăng cường hiệu quả điều trị và ngăn ngừa ung thư hóa.

Các “Nghiên cứu về tác dụng điều tiết của thuốc Đông Y đối với hệ vi sinh đường ruột, “Nghiên cứu về tác dụng điều tiết của thuốc Đông Y đối với các liên kết Protein hệ tiêu hóa” đã chỉ ra rằng các hoạt chất trong thuốc Đông dược sau khi được chuyển hóa bởi hệ vi khuẩn đường ruột hoạt tính dược lý được tăng cường và nâng cao hiệu quả điều trị.

Giáo sư Tiền Lâm trong “Nghiên cứu về mối tương quan giữa lợi khuẩn đường ruột và thuốc Đông Y trong điều trị bệnh” đã nói rõ rằng hệ vi khuẩn đường ruột và thuốc Đông Y có tác dụng điều tiết lẫn nhau tăng tác dụng có lợi.

Trương Cảnh Nhự và cộng sự trong “Nghiên cứu về ảnh hưởng của sự mất cân bằng hệ vi khuẩn đường ruột đối với bệnh ung thư đại trực tràng và cơ chế điều chỉnh chi phối của thuốc y học cổ truyền” [14] đã làm rõ rằng vi khuẩn có hại có thể thúc đẩy sự xuất hiện của ung thư đại trực tràng bằng cách làm hỏng các tế bào biểu mô ruột, tạo ra các chất chuyển hóa độc hại và gây ra các phản ứng viêm trong điều kiện mất cân bằng hệ vi khuẩn đường ruột.

Vì vậy, y học lâm sàng của giáo sư Lưu chủ yếu là y học cổ truyền Trung Quốc, bổ sung bằng phương pháp tây y, kết hợp hữu cơ giữa Trung và Tây y.

Bệnh án điển hình

Bệnh nhân nam, 50 tuổi, đến khám lần đầu vào ngày 12/9/2019.

Bệnh nhân phàn nàn về sự thay đổi thói quen đại tiện, tính chất phân trong hơn 3 năm. Bệnh nhân không rõ nguyên nhân từ khi nào bắt đầu xuất hiện thay đổi tính chất phân, bệnh phát gián đoạn, đi đại tiện 3 – 4 lần / ngày, bụng không chướng, không đau, không có dịch nhầy, không máu mủ, lý cấp hậu trọng (đau quặn mót rặn, bụng đau giục đi đại tiện, nhưng đi không được, hoặc đi xong nhưng không thoải mái, muốn đi tiếp). 

Bệnh nhân không để tâm lắm, chưa nội soi đại tràng mà chỉ đến trung tâm chăm sóc sức khỏe cộng đồng (Trung tâm y tế huyện/phường) được chỉ định dùng phức hợp thuốc đông y và Glutamine (nhãn hiệu Gushen) dạng viên nang tan trong ruột, uống ngày 2 viên/lần + Kết hợp men vi sinh sống Bifidobacterium , Lactobacillus , Enterococcus và Bacillus cereus (nhãn hiệu Tư liên khang) , Uống ngày 3 lần mỗi lần 1 viên. Bệnh nhân uống gián đoạn trong vòng 1 năm để điều chỉnh hệ vi khuẩn đường ruột nhưng hiệu quả không rõ.

Hai năm trước, bệnh nhân đã đến Bệnh viện Trung y tỉnh Giang Tô nội soi đại tràng để chẩn đoán và điều trị. Kết  quả đại trường có nhiều polyp. Vì các polyp đều nhỏ nên sau khi phát hiện đã được cắt bỏ qua nội soi.

Cách đây 1 năm, nội soi đại tràng lại, thấy đại trường có nhiều khối polyp. Hầu hết vị trí các khối u đều mới phát, các vị trí polyp cũ đã cắt đều để lại sẹo, một số ít polyp tái phát và tăng sinh nên tiến hành phẫu thuật cắt bỏ qua nội soi. 

Ngày hôm nay bệnh nhân mới đi nội soi kiểm tra lại, kết quả đại trường có nhiều polyp. Nội soi thấy nhiều tổn thương cục bộ mới phát, khoảng 10 khối polyp, kích thước lớn nhất 1cm × 1.2cm, lần này không phẫu thuật cắt bỏ.

Bệnh nhân nội soi cắt polyp liên tiếp nó lại liên tiếp sinh, cắt không thể hết, buồn khổ vạn phần, nay mới đến phòng khám của Bác sĩ Hòa xin chữa trị bằng Trung y.

Hiện tại: Bệnh nhân tỉnh táo, tinh thần minh mẫn, đại tiện phân không thành khuôn ngày 4 lần, phân nhầy máu, bụng sôi đầy hơi, bụng chướng đau ít, sợ lạnh thích ấm  nhưng trong ngực phiền nhiệt như có lửa đốt, ngủ khó vào giấc, tiểu tiện bình thường, không có tăng hay sút cân gần đây. Chất lưỡi hơi đỏ, rêu lưỡi vàng mỏng dính nhớt, mạch Huyền tế.

Chẩn đoán YHCT:  Trường đàm (Hàn nhiệt thác tạp).

Chẩn đoán YHHĐ: Đa polyp đại tràng.

Pháp điều trị: Điều hòa hàn nhiệt, Hành khí thông phủ.

Phương dược: Ô mai hoàn gia giảm.

Bài thuốc: Ô mai (chích) 30g, Xuyên hoàng liên 3 g, Hoàng bá (sao) 10g, Phụ tử chế 5g, Nhục quế (cho vào sau) 3g, Can khương 3g, Đảng sâm (sao) 10g, Đương quy 10g, Trần bì 6g, Mộc hương 6g, Binh lang 10g, Nga truật 10g, Cương tàm (sao) 10g, Bại tương thảo 30g, Chích cam thảo 3g. 14 thang, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 lần.

Khám lần 2: Ngày 8/10/2019, bệnh nhân sau khi uống thuốc đại tiện phân dần thành khuôn, số lần đi đại tiện giảm, cơ bản duy trì 2 – 3 lần / ngày, đỡ đau bụng nhiều, trong ngực không thấy phiền nhiệt, rêu lưỡi đỡ vàng, ăn uống được cải thiện. Phương trên tăng lượng Đảng sâm (sao) lên 15g, các vị thuốc còn lại giữ nguyên liều lượng tiếp tục uống.

Lần khám thứ 3: Ngày 7/11/2019, sau khi uống thuốc bệnh nhân đại tiện phân cơ bản đã thành khuôn, đại tiện ngày 1 đến 2 lần, không thấy đau bụng, sợ lạnh thích ấm, rêu lưỡi chuyển từ vàng nhớt sang trắng mỏng nhớt, hai bên có vết hằn răng.  Phương trên giảm Bại tương thảo xuống còn 15 g, thêm Sinh hoài sơn, Sao Ý dĩ nhân 15g, còn lại không đổi. tiếp tục uống như trên.

Lần khám thứ 4: Ngày 29/12/2019, Sau khi uống thuốc bệnh nhân đại tiện phân thành khuôn, phân mềm dễ đi ngày 1 lần, không chướng bụng không đau bụng, ngủ dễ vào giấc. Nội soi đại tràng thấy có nhiều polyp trong đại tràng. Không tìm thấy tổn thương mới, chỉ còn lại 3 polyp, kích thước lớn nhất là 0,5 cm × 0,5 cm. Dặn dò bệnh nhân tiếp tục uống thuốc, điều chỉnh cảm xúc, tư tưởng thoải mái, sinh hoạt điều độ, ăn uống thanh đạm và 1 năm nội soi đại tràng kiểm tra  lại.

Bàn luận: Bệnh nhân đến khám chủ yếu do “thay đổi thói quen đại tiện, tính chất phân hơn 3 năm.” Nội soi đại tràng cho thấy nhiều polyp trước và sau khi cắt bỏ bằng nội soi 2 lần, cắt liên tục nhưng không hết, tình trạng bệnh khống chế không tố, về lâu dài có nguy cơ dẫn đến ung thư (Nham chứng).

Qua thời gian dài lâm sàng, giáo sư Lưu rút ra kết luận, đối với bệnh lý Đa polyp đại tràng điều trị phẫu thuật nội soi cắt bỏ polyp hiệu quả không lý tưởng, dùng Ô mai hoàn làm phương chính tùy tình hình mà biến hóa gia giảm, có hiệu quả rõ ràng trong việc ức chế sự phát triển của polyp.

Tại thời điểm khám bệnh, bệnh nhân có các biểu hiện của chứng tỳ dương bất thăng, tỳ vị vận hóa thất thường như vùng bụng ớn lạnh, sợ lạnh thích ấm, ăn uống kém, ăn ít, chán ăn, lại có trong ngực phiền nhiệt như có lửa đốt, lưỡi đỏ rêu vàng nhớt là biểu hiện của thấp nhiệt uẩn kết. Những biển hiện trên đều thuộc chứng Hàn nhiệt thác tạp. Pháp điều trị nên Kiện tỳ hóa thấp, Hàn nhiệt cùng dùng, Hư thực đồng trị, Thông phủ hành khí, đó là ứng dụng cụ thể của chứng “Toàn thân là hàn, cục bộ là nhiệt”.

Trong phương thuốc dùng Ô mai vị toan sáp chua chát có tác dụng thu liễm tiêu u bướu; Hoàng liên, Hoàng bá phối Nhục quế, Phụ tử chế,Can khương không chỉ Khổ hàn thanh tiết mà còn Ôn vận Tỳ dương; Đảng sâm, Đương quy Bổ khí dưỡng huyết, phù trợ chính khí; Trần bì, Mộc hương, Binh lang hành khí đạo trệ, thông sướng tạng phủ; Nga truật, Bại tương thảo, Cương tàm sao Tán kết tiêu ứ hóa tích.

Ở lần khám thứ 2, các triệu chứng của bệnh nhân dần dần được cải thiện, lúc này việc tăng liều Đảng sâm là nhằm hỗ trợ thêm cho chính khí và củng cố hiệu quả điều trị.

Tại thời điểm khám bệnh lần thứ 3, bệnh nhân không bị nóng trong ngực, vùng bụng không thấy còn sợ lạnh thích ấm, rêu lưỡi vàng nhớt dần chuyển thành trắng nhớt, hai bên có dấu hằn răng nói nên rằng hàn nhiệt đã bình, âm dương ký tế, nhưng thấp tà chưa hết mà tỳ khí rất hư yếu, úc này giảm Bại tương thảo nhằm giảm lực thanh nhiệt, tăng Hoài sơn (sống), Ý dĩ (sao) nhằm tăng cường tác dụng kiện Tỳ khư thấp.

Lưu giáo sư cho rằng lúc này nên thừa thắng truy kích, trên cơ sở của nguyên phương (phương thuốc gốc) mà tăng cường sức kiện tỳ hóa thấp, rửa trôi tà khí còn sót lại, bổ trợ chính khí. Các loại thuốc phối hợp với nhau, đến lần khám thứ 4 thì các triệu chứng gần như đã hết, kết quả nội soi đại tràng khiến bệnh nhân rất vui, không phát hiện thêm tổn thương mới hoặc nặng hơn và tiếp tục uống thuốc củng cố để duy trì hiệu quả điều trị.

Tổng kết 

Giáo sư Lưu cho rằng y học cổ truyền Trung Quốc có những ưu điểm riêng trong điều trị bệnh polyp đại tràng, căn nguyên nằm ở việc nắm bắt tinh chuẩn chính xác bản bệnh (gốc bệnh), bệnh cơ (cơ chế bệnh sinh) của căn bệnh này, đó là Tỳ hư là gốc; đại trường mất chức năng truyền đạo,Thấp, đàm, ứ, trọc, độc,..các sản phẩm bệnh lý súc kết dừng ở trong trường vị là ngọn.

Phương pháp điều trị lấy Kiện tỳ, hóa tích, thông phủ làm chủ, bên cạnh đó việc phối ngũ trọng về Sơ can Lý phế . Khi gặp những bệnh nhân có polyp đã nội soi cắt bỏ nhiều lần không khỏi và khó điều trị, khi lâm sàng cần mở rộng tư duy ý tưởng mới, dưới tiền đề biện chứng tinh chuẩn sử dụng cổ phương bài Ô mai hoàn biến hóa linh hoạt, điều trị tổng thể, ắt sẽ có những hiệu quả bất ngờ về mặt lâm sàng.

5/5 - (1 bình chọn)

Đông y Gia Khương
Địa chỉ: U01-LK64 Khu đô thị Đô Nghĩa, P. Yên Nghĩa, Q.Hà Đông, TP. Hà Nội.

Hotline tư vấn và đặt lịch lịch khám:
0977 25 77 85

Chia sẻ bài viết lên:

Viết một bình luận